Skip to main content

Kỹ năng xác minh, thu thập, đánh giá chứng cứ trong vụ án tranh chấp về mở lối đi trên bất động sản liền kề.

(21/09/2020 08:55)

Điều 245 BLDS 2015 đưa ra khái niệm quyền đối với bất động sản liền kề như sau: “Quyền đối với bất động sản liền kề là quyền được thực hiện trên một bất động sản (gọi là bất động sản chịu hưởng quyền) nhằm phục vụ cho việc khai thác một bất động sản khác thuộc quyền sở hữu của người khác (gọi là bất động sản hưởng quyền)”. Như vậy, quyền đối với bất động sản liền kề về bản chất là vật quyền, quyền này gắn liền với hai bất động sản (hưởng quyền và chịu hưởng quyền) chứ không gắn với chủ sở hữu bất động sản, khi thay đổi chủ sở hữu thì quyền này sẽ không bị mất đi mà chuyển từ chủ sở hữu cũ sang chủ sở hữu mới, chủ sở hữu mới sẽ được hưởng quyền, còn chủ sở hữu cũ sẽ chấm dứt quyền.

Quyền về lối đi qua là một trong những quyền đối với bất động sản liền kề và là một quyền năng đặc biệt quan trọng. Thực tế, bất kì chủ thể nào cũng có nhu cầu sử dụng lối đi để thông thương ra đường công cộng, phục vụ cuộc sống hằng ngày. Vì vậy, quyền yêu cầu mở lối của chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc khi không có hoặc không đủ lối đi là một quyền dân sự rất thiết thực của người dân. Việc ghi nhận quyền này thể hiện tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, đề cao tình làng nghĩa xóm theo tinh thần của dân tộc Việt Nam, đồng thời đảm bảo cân bằng lợi ích giữa chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền và chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền.

BLDS 2015 đã có những sự thay đổi rõ rệt và tiến bộ về quy định quyền đối với bất động sản liền kề, trong đó có quyền về lối đi. Hiện nay các vụ án về liên quan đến lối đi trên bất động sản liền kề ngày càng có xu hướng tăng vì nhu cầu sử dụng đất tăng lên trong khi diện tích đất không đổi và các chủ sở hữu bất động sản có quan điểm khác nhau, không tự thỏa thuận được khi một số quy định của BLDS chưa quy định cụ thể. Để giải quyết các vụ án dân sự nói chung và vụ án về mở lối đi trên bất động sản liền kề nói riêng, các Thẩm phán phải căn cứ trên hồ sơ vụ án, nói cách khác là tập hợp các tài liệu, chứng cứ được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Toà án hoặc do Toà án thu thập được theo trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự quy định. Do đó việc xây dựng hồ sơ vụ án, xác minh thu thập chứng cứ là nhiệm vụ hết sức quan trọng không thể thiếu được của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Căn cứ trên chứng cứ thu thập được Thẩm phán có nhiệm vụ đánh giá toàn bộ chứng cứ để giải quyết đúng đắn vụ án. Việc đánh giá chứng cứ có đúng đắn, khách quan và toàn diện phụ thuộc vào việc thu thập chứng cứ có đầy đủ, chính xác và đúng pháp luật.

Nhận thấy tầm quan trọng của việc thu thập, đánh giá chứng cứ trong vụ án dân sự và thực tiễn giải quyết vụ án tranh chấp về mở lối đi trên bất động sản liền kề. Trong phạm vi bài viết này tác giả tập trung đưa ra những “Kỹ năng xác minh, thu thập, đánh giá chứng cứ trong vụ án tranh chấp về mở lối đi trên bất động sản liền kề”.

1 Khái niệm về chứng cứ và xác minh, thu thập, đánh giá chứng cứ trong vụ án dân sự

Theo từ điển Tiếng Việt. Chứng cứ là: “Cái được dẫn ra để làm căn cứ xác định điều gì đó là có thật”1. Theo quy định tại Điều 93 BLTTDS năm 2015 quy định về chứng cứ trong vụ việc dân sự như sau: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự, cơ quan tổ chức , cá nhân khác giao nộp, xuất trình tự cho Tòa án trong quá trình tố tụng và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”.

Từ khái niệm trên có thể khẳng định, chứng cứ trong tố tụng dân sự phải bảo đảm 03 thuộc tính là tính khách quan (là những gì có thật); tính liên quan (được dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự) và tính hợp pháp (được giao nộp hoặc thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTDS quy định). Như vậy, những gì được xác định là chứng cứ thì chúng phải đảm bảo 03 thuộc tính của chứng cứ được nêu trên.

Về hoạt động thu thập chứng cứ, theo Từ điển tiếng Việt, thu thập là "góp nhặt và tập hợp lại”. Cho nên, có thể hiểu “Thu thập chứng cứ là việc phát hiện, tìm ra các chứng cứ, tập hợp đưa vào hồ sơ vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giải quyết vụ việc dân sự”.

Xác minh chứng cứ là việc sử dụng các biện pháp nghiệp vụ do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhằm kiểm tra, xác định tính khách quan, xác thực tính liên quan và tính hợp pháp của chứng cứ.

2 Khái niệm về bất động sản liền kề

Mặc dù BLDS không quy định một khái niệm cụ thể về bất động sản liền kề, thế nhưng, theo từ điển Tiếng Việt phổ thông: “liền” là “Ở kề, sát ngay, không cách”; “kề” là “Ở vào hoặc làm cho vị trí rất gần, không còn hoặc coi như không có khoảng cách”. Tức là những bất động sản ở ngay cạnh bên nhau có chung với nhau một ranh giới. Bất động sản liền kề có thể được hiểu là những bất động sản có chung nhau ranh giới. Theo cách định nghĩa của thuật ngữ pháp lý phổ thông, đất liền kề là: “Khu đất liền nhau, tiếp nối nhau với khu đất đã được xác định”.

Như vậy, bất động sản liền kề “được hiểu là bất động sản có sự tiếp giáp nhau về ranh giới giữa các bất động sản”. Phải xác định được bất động sản liền kề mới biết được bất động sản phải hạn chế quyền để phục vụ cho một bất động sản khác.

Tuy nhiên, yếu tố liền kề không nên được hiểu theo một cách máy móc, rập khuôn, “liền kề” được hiểu là bất động sản có chung ranh giới như cách hiểu nêu trên. Bởi lẽ, trong quá trình khai thác, sử dụng bất động sản bị vây bọc không chỉ cần đến sự nhượng quyền của bất động sản có chung ranh giới mà còn có cả những bất động sản khác. Đó là những bất động sản tiếp nối với bất động sản liền kề. Chúng ta nhận thấy rằng, để một bất động sản bị vây bọc có thể thông thương với đường công cộng cần phải có một lối đi. Lối đi này có thể không chỉ đi xuyên qua một mà còn có thể qua nhiều bất động sản của nhiều chủ sở hữu khác nhau. Trong khi đó, bất động sản bị vây bọc chỉ giáp ranh với một bất động sản. Nghĩa là, sẽ có những bất động sản không liền kề, nhưng vẫn phải hạn chế quyền để tạo lập lối đi. Bởi vì, từ bất động sản bị vây bọc để có thể đi ra đến đường công cộng nhất thiết phải đi qua những bất động sản này. Nếu quyền về lối đi chỉ được áp dụng trên bất động sản liền kề thì sẽ gây ra khó khăn, bất cập, dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất trong thực tiễn. Thậm chí còn có rất nhiều vụ án mà đồng nguyên đơn khởi kiện mở lối đi nhưng thực chất không phải tất cả các nguyên đơn và bị đơn đều có bất động sản liền kề. Nhưng khi xét xử Tòa án mặc nhiên xem như đủ điều kiện để cho phép mở lối đi. Vì vậy thông qua thực tiễn xét xử, Tòa án đã “mở rộng” thêm cách hiểu về yếu tố “liền kề”, đó là ngoài bất động sản liền kề, trong quá trình sử dụng bất động sản bị vây bọc còn tác động lên những bất động sản khác chính là những bất động sản xung quanh.

3 Những vấn đề về xác minh, thu thập, đánh giá chứng cứ trong vụ án dân sự tranh chấp về mở lối đi trên bất động sản liền kề

3.1 Xác định chứng cứ cần phải thu thập

Xuất phát từ sự đa dạng và phức tạp của các tranh chấp dân sự nên vấn đề cần chứng minh trong mỗi vụ tranh chấp là khác nhau. Việc xác định vấn đề nào cần chứng minh và các chứng cứ liên quan cần thiết phải thu thập sẽ phải căn cứ từ quy định pháp luật tương ứng điều chỉnh vụ việc đó. Đối với các vụ án tranh chấp về mở lối đi trên bất động sản liền kề, cần phải tìm hiểu các thông tin về điều kiện áp dụng quyền về lối đi, căn cứ xác lập và chấm dứt về quyền lối đi, cụ thể như sau:

* Điều kiện áp dụng quyền về lối đi

Theo Điều 254 BLDS 2015 về điều kiện được mở lối đi, trước tiên là bất động sản phải bị vây bọc. BLDS 2015 không có giải thích như thế nào là bị vây bọc. Tuy nhiên, ta có thể hiểu một bất động sản bị vây bọc nghĩa là bị bao bọc bởi một hoặc nhiều bất động sản xung quanh dẫn đến việc không thể trực tiếp thông thương với đường công cộng hoặc lối thông thương quá nhỏ dẫn đến việc khai thác, sử dụng bất động sản bị hạn chế.

Điều kiện thứ hai là không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng. Không có lối đi nghĩa là không có bất cứ một lối đi nào, chủ sở hữu sẽ không thể thông thương với đường công cộng cũng như không thể khai thác, sử dụng bất động sản của mình; không đủ lối đi nghĩa là thực tế vẫn có lối đi nhưng do lối đi quá hẹp hoặc quá ngắn không đủ để chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc có thể đi ra đến đường công cộng, việc khai thác, sử dụng bất động sản bị hạn chế. Như vậy, trong trường hợp chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc hoàn toàn dẫn đến không có lối đi hoặc có lối đi nhưng không đủ gây khó khăn trong việc khai thác, sử dụng bất động sản của mình thì có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc mở cho mình một lối đi.

Lối đi được mở phải thuận tiện và hợp lý. Việc mở lối đi phải xem xét kĩ lưỡng điều kiện này để hạn chế thiệt hại đến mức thấp nhất cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền. Khi mở lối đi phải tính đến vị trí địa lý và đặc điểm của vị trí đó, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và khả năng gây thiệt hại cho bất động sản vây bọc. Lối đi phải được mở như thế nào? Bên trái hay bên phải, phía ngoài hay phía trong, đi thẳng hay đi vòng, chiều dài, chiều rộng, chiều cao là bao nhiêu, những vấn đề này phải được các bên tính toán kĩ lưỡng, cụ thể và sau đó thỏa thuận với nhau, đảm bảo cân bằng lợi ích và hài hòa trong mối quan hệ giữa các chủ thể. BLDS 2015 chỉ quy định vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thỏa thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên, chứ không quy định cụ thể như thế nào là thuận tiện và hợp lý? Lối đi được mở để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hằng ngày hay lối đi vừa phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày vừa phục vụ cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh?

Về vấn đề đền bù, chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Đứng trên phương diện là chủ sở hữu thì chủ sở hữu chịu hưởng quyền có toàn quyền khai thác và sử dụng đối với bất động sản của mình, tuy nhiên vì phải dành cho chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền một lối đi nên quyền khai thác, sử dụng bất động sản của họ bị hạn chế. Theo quy định của BLDS 2015 thì đền bù không phải là điều kiện mở lối đi mà chỉ là hệ quả của việc mở lối đi. Việc chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền mang ý nghĩa hỗ trợ vật chất vì quyền sở hữu bất động sản bị hạn chế.

Trường hợp bất động sản được phân chia do thừa kế, tặng cho, mua bán… cho nhiều chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì họ phải dành một lối đi cho người phía trong. Tuy nhiên có hai trường hợp: (1) Sau khi phân chia vẫn còn diện tích để dành một lối đi; (2) Sau khi phân chia không còn diện tích đất để mở lối đi, theo quy định của luật, lối đi phải mở được xác định là đối với các bất động sản có cùng nguồn gốc, như vậy, đối với các bất động sản liền kề khác thì như thế nào? Đối với trường hợp này, nếu diện tích của các bất động sản được phân chia quá nhỏ, không thể khai thác và sử dụng để mở lối đi thì có thể yêu cầu mở lối đi qua các bất động sản liền kề khác hay không?

* Căn cứ xác lập quyền về lối đi

Quyền về lối đi là một trong những quyền đối với bất động sản liền kề, nên căn cứ xác lập được quy định tại Điều 246 BLDS 2015 là do địa thế tự nhiên, theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc theo di chúc.

Vấn đề xác lập theo quy định của luật, tại khoản 1 Điều 254 BLDS 2015 có quy định “chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ”. Điều này nghĩa là chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc khi họ không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng có quyền yêu cầu được mở lối đi, quyền này được xác lập trực tiếp theo quy định của luật.

Vấn đề xác lập theo thỏa thuận, luật cho phép chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc có quyền yêu cầu được mở lối đi, tuy nhiên mở lối đi như thế nào, về vị trí, giới hạn chiều dài, chiều cao, chiều rộng của lối đi thì phải do các bên thỏa thuận, chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc không có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc mở lối đi theo ý muốn của mình. Nếu các bên có tranh chấp thì có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền khác xác định.

Vấn đề xác lập theo di chúc. Di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phương của cá nhân. Nếu chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc để lại di chúc thể hiện nội dung để cho người thừa kế của họ được hưởng quyền về lối đi thì chủ sở hữu bất động sản vây bọc phải tôn trọng quyền này của người thừa kế. Như vậy, quyền về lối đi của người thừa kế đương nhiên được xác lập theo di chúc trong trường hợp này.

*. Căn cứ chấm dứt quyền về lối đi

Căn cứ chấm dứt quyền về lối đi được quy định tại Điều 256 BLDS 2015, đó là: (1) Trường hợp chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc và bất động sản vây bọc là cùng một người; (2) Việc sử dụng, khai thác lối đi không còn làm phát sinh nhu cầu hưởng quyền của chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc; (3) Theo thỏa thuận của các bên; (4) Trường hợp khác theo quy định của luật.

* Hiệu lực của quyền về lối đi

Điều 247 BLDS 2015 quy định quyền về lối đi có hiệu lực đối với mọi cá nhân, pháp nhân, và được chuyển giao khi bất động sản được chuyển giao, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Theo đó, mọi cá nhân, pháp nhân đều phải tôn trọng quyền về lối đi của chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc. Đồng thời, khi chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc có quyền về lối đi chuyển giao bất động sản của mình cho chủ thể khác thì cũng phải chuyển giao cả quyền về lối đi cho chủ thể đó. Ví dụ: A là chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc, có quyền về lối đi qua bất động sản của B. Sau đó, A chuyển nhượng bất động sản của mình cho C, đồng thời sẽ phải chuyển giao luôn quyền về lối đi cho C. Và B có nghĩa vụ phải tôn trọng quyền về lối đi của C.

3.2 Việc thực hiện thu thập chứng cứ

Trong tố tụng dân sự, việc thu thập và cung cấp chứng cứ cho Tòa án là nghĩa vụ chính của đương sự, do đương sự tự mình thực hiện. Tòa án chỉ hỗ trợ đương sự thu thập chứng trong trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập tài liệu, chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được, hoặc khi thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án.

Theo nguyên tắc được quy định tại khoản 2 Điều 6 BLTTDS thì "Toà án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định” và khoản 2 Điều 97 BLDS quy đinh xác minh, thu thập chứng cứ như sau: “ 2. Trong các trường hợp do Bộ luật này quy định, Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ: a) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; b) Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng; c) Trưng cầu giám định; d) Định giá tài sản; đ) Xem xét, thẩm định tại chỗ; e) Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ; g) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự; h) Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú; i) Các biện pháp khác theo quy định của Bộ luật này.”

Khi Thẩm phán thực hiện một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ cần nắm vững nguyên tắc được quy định trong BLTTDS, đó là, thu thập chứng cứ trong giải quyết vụ án dân sự vừa là nghĩa vụ của đương sự vừa là trách nhiệm của Tòa án. BLTTDS quy định đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu. Tòa án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ khi đương sự đã áp dụng mọi biện pháp nhưng vẫn không tự thu thập được và có yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập. Với quy định này, BLTTDS quy nghĩa vụ chứng minh trước hết thuộc về đương sự và giảm được những công việc cho Thẩm phán. Đồng thời bảo đảm được tính minh bạch, khách quan, tránh việc Thẩm phán lạm dụng biện pháp thu thập chứng cứ để thu thập chứng cứ có lợi cho một trong các bên đương sự, từ đó ra phán quyết không đúng với bản chất của vụ án đang giải quyết, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể quan hệ pháp luật. Tuy nhiên, Thẩm phán có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng tất cả các biện pháp thích hợp của mình. Từ đó, thẩm phán quyết định phạm vi tài liệu, chứng cứ của vụ án, và biện pháp thu thập chứng cứ.

Áp dụng được biện pháp thu thập chứng cứ nào cần thiết, phù hợp, Thẩm phán cần xác định được hệ thống chứng cứ của vụ án (có thể gọi là phát hiện chứng cứ). Căn cứ vào đối tượng chứng minh và quy định của pháp luật nội dung để phát hiện hệ thống chứng cứ của vụ án. Đối tượng chứng minh trong vụ án dân sự rất phức tạp, đặc biệt đối với vụ án có nhiều đương sự, có nhiều loại yêu cầu, nhiều quan hệ pháp luật tranh chấp. Sau khi xác định được hệ thống chứng cứ, Thẩm phán phải có khả năng xác định được các chứng cứ cần thu thập bổ sung. Xác định được các chứng cứ cần thu thập bổ sung cần lưu ý quy định của BLTTDS về các tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh trong vụ án. Các chứng cứ cần thu thập bổ sung đang được cá nhân, cơ quan, tổ chức nào quản lý, lưu giữ và bằng cách nào để thu thập chúng. Trong chuỗi các hoạt động đó thì việc xác định chứng cứ là hoạt động đầu tiên có vai trò quan trọng, bởi chỉ có thể thu thập được chứng cứ khi xác định được nó. Tùy thuộc từng loại tranh chấp, tính chất, bối cảnh của từng vụ án mà Thẩm phán quyết định áp dụng từng biện pháp hay tổng hợp nhiều biện pháp thu thập chứng cứ cũng như xác định thời hạn phù hợp cho quá trình thu thập chứng cứ đó. Đây là hoạt động tư duy của Thẩm phán, phản ánh năng lực của người Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự.

Để áp dụng có hiệu quả các biện pháp thu thập chứng cứ, Thẩm phán cần phải thực hiện khoa học các hoạt động chuẩn bị cho việc thu thập chứng cứ, đó chính là sắp xếp tài liệu, chứng cứ theo tệp hồ sơ một cách hệ thống và tiến hành nghiên cứu, xác định các nội dung như: 

- Xác định yêu cầu và phạm vi yêu cầu (yêu cầu khởi kiện, phản tố, độc lập) và căn cứ đưa ra yêu cầu của các đương sự, quan điểm và căn cứ của bên đương sự kia.

-  Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án.

- Tư cách đương sự.

- Các vấn đề cần phải chứng minh của vụ án, đặc biệt là các tình tiết, sự kiện mới xuất hiện, điểm mấu chốt nào cần làm rõ để có thể giải quyết được vụ án.

-  Nghĩa vụ chứng minh của các bên đương sự.

- Các vấn đề đã chứng minh được, vấn đề chưa chứng minh được và các chứng cứ cần thu thập bổ sung để hoàn thiện hồ sơ vụ án.

- Văn bản quy phạm pháp luật áp dụng.

Sau khi xác định được chính xác, đầy đủ các nội dung trên để việc áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ phù hợp, Thẩm phán cần tiến hành các công việc sau:

- Tạo điều kiện cho các bên đương sự được biết chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập để họ có thể trả lời về các chứng cứ đó (được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ).

- Tạo điều kiện để các bên thống nhất về các tình tiết của vụ án.

- Xác định danh mục các tình tiết mà các bên còn tranh chấp.

Thực hiện tốt các công việc chuẩn bị cho việc thu thập chứng cứ, sẽ tạo tiền đề và hiệu quả cho hoạt động áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ của Thẩm phán. BLTTDS quy định Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Luật này quy định. Thủ tục thu thập chứng cứ được quy định cụ thể từ các Điều 98 đến 105 và các điều luật tương ứng khác của BLTTDS. Thẩm phán được tự mình tiến hành một hoặc một số biện pháp sau để thu thập chứng cứ: lấy lời khai của đương sự; lấy lời khai người làm chứng khi xét thấy cần thiết; đối chất khi xét thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng xem xét thẩm định tại chỗ; định giá tài sản trong trường hợp các bên thỏa thuận mức giá thấp nhằm mục đích trốn thuế hoặc giảm mức đóng án phí; ủy thác thu thập chứng cứ, xác minh tài liệu, chứng cứ Luật còn quy định điều kiện để Thẩm phán được tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ khi đương sự không thể tự mình thu thập được và có yêu cầu như: lấy lời khai người làm chứng; đối chất; trưng cầu giám định; định giá tài sản, yêu cầu  tổ chức thẩm định giá tài sản tiến hành thẩm định giá; yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ.

Trong quá trình xây dựng hồ sơ vụ án, nếu có yêu cầu áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của đương sự, Thẩm phán phải xem xét các căn cứ của yêu cầu đồng thời còn phải thu thập các chứng cứ chứng minh để từ đó quyết định chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu. Trình tự, thủ tục áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ Biện pháp khẩn cấp tạm thời phải được thực hiện theo đúng quy định của BLTTDS.

Hoạt động xây dựng hồ sơ vụ án đòi hỏi thẩm phán phải giải quyết tất cả các vấn đề, các tình huống xảy ra liên quan đến vụ án. Việc xuất hiện các tình huống về tố tụng hay nội dung có thể dẫn đến các quyết định tố tụng hoặc hành vi tố tụng, đòi hỏi Thẩm phán phải xử lý linh hoạt nhưng chuẩn xác, đúng pháp luật, bảo đảm được các nguyên tắc của BLTDS.

3.3 Việc sử dụng, đánh giá chứng cứ

Trong trường hợp đã thu thập được chứng cứ thì việc sử dụng các chứng cứ đó một cách có hiệu quả, đòi hỏi người tiến hành tố tụng phải có những kỹ năng nhất định về phân tích, lập luận vấn đề pháp lý. Căn cứ quy định tại Điều 108 BLTTDS, việc đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác và Tòa án phải đánh giá từng chứng cứ, sự liên quan giữa các chứng cứ và khẳng định tính hợp pháp, tính liên quan, giá trị chứng minh của từng chứng cứ.

4. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thứ nhất, cần có văn bản hướng dẫn cụ thể như thế nào là “lối đi thuận tiện, hợp lý” và “lối đi không đủ”, tạo cơ sở để các bên thỏa thuận được với nhau về giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi, hạn chế phát sinh tranh chấp hoặc nếu có tranh chấp xảy ra thì Thẩm phán cũng có đủ căn cứ pháp lý để xác định theo yêu cầu của đương sự, tránh trường hợp xác định theo ý chí chủ quan, ảnh hưởng đến quyền sở hữu của các bên. Đồng thời, cần quy định cụ thể căn cứ xác định lối đi không đủ cho từng khu vực: thành thị và nông thôn, đồng bằng và miền núi.

Thứ hai, cần quy định cụ thể phương thức đền bù, mức đền bù, thời hạn đền bù và chế tài nếu không thực hiện việc đền bù. Về phương thức đền bù, có thể đền bù bằng tiền hay bằng hiện vật. Về thời hạn đền bù, tác giả kiến nghị quy định sau khi mở lối đi thì chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền sẽ đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, tránh tình trạng đền bù trước nhưng sau đó lối đi lại không được mở. Về chế tài, nên quy định những chế tài cụ thể để áp dụng trong trường hợp chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền không thực hiện đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, nhằm ràng buộc nghĩa vụ của chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền và có cơ sở xử lý khi họ không đền bù, bảo đảm quyền lợi của bên có bất động sản chịu hưởng quyền.

Thứ ba, cần quy định cụ thể thời hạn hợp lý mà chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền phải thông báo cho chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền trong trường hợp có thay đổi về việc thực hiện quyền là trong khoảng thời gian bao lâu, bằng một con số cụ thể để nâng cao trách nhiệm của bên có bất động sản chịu hưởng quyền và tạo điều kiện thuận lợi cho bên có bất động sản hưởng quyền tìm cách thức thay thế, đảm bảo việc thực hiện quyền được liên tục.

Thứ tư, cần quy định cụ thể chế tài về trách nhiệm của chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền trong trường hợp không thông báo trước cho chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền nếu có thay đổi về việc thực hiện quyền, nhằm tăng khả năng thi hành của quy định này.

- Cần phải nâng cao hơn nữa năng lực xét xử của Thẩm phán bởi lẽ trong khi chờ đợi hướng dẫn của pháp luật đối với các vướng mắc nêu trên. Một khi thực tế phát sinh tranh chấp liên quan đến những vấn đề này, đặt ra yêu cầu rất lớn cho các Thẩm phán trực tiếp tham gia xét xử những tranh chấp quyền về lối đi qua đó chính là cần phải giải thích, lập luận cũng như đánh giá đúng, chính xác về những vấn đề nêu trên để đảm bảo quyền và lợi ích của các bên trong tranh chấp.

5. Kết luận:

Quyền về lối đi qua là một quyền năng đặc biệt quan trọng. Thực tế, bất kì chủ thể nào cũng có nhu cầu sử dụng lối đi để thông thương ra đường công cộng, phục vụ cuộc sống hằng ngày. Vì vậy, quyền yêu cầu mở lối của chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc khi không có hoặc không đủ lối đi là một quyền dân sự rất thiết thực của người dân. BLDS 2015 đã có những sự thay đổi rõ rệt và tiến bộ về quy định quyền đối với bất động sản liền kề, trong đó có quyền về lối đi. Tuy nhiên, vẫn có một số điểm bất cập còn tồn tại, gây khó khăn cho các bên chủ thể cũng như việc xử lý, giải quyết tranh chấp trên thực tế của Tòa án và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác. Vì vậy, những vấn đề bất cập cần được sửa đổi bằng những quy định cụ thể hơn để khắc phục những vướng mắc nhằm có những hướng giải quyết thấu đáo cho các tranh chấp phát sinh.

1 Trang 192. Cuốn Từ điển Tiếng Việt – Viện ngôn ngữ học – Nhà xuất bản Đà Nẵng, xuất bản năm 2002


Ý kiến bạn đọc

0 Bình luận

Ý kiến bình luận

Đổi mã xác nhận

Các tin khác

Lượt xem: 47
cdscv